RE:Những bài văn mẫu lớp 10



 


                                                                                                                                                                                                                  
              Game Online                                                                              Góc hài Hước
                         Game Offline                                                                                                         ChatChit 24h 
                              
Nghe nhạc- Tin tức nhạc                                                                      Xem - Download Phim


           
                                                  


INDEXINDEX  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Bài trong ngàyBài trong ngày  MEMBERLISTMEMBERLIST  Chat boxChat box
SHOP.1.SHOP.1.  Shop.2.Shop.2.  Chỉnh giao diệnChỉnh giao diện  Sửa chữ kýSửa chữ ký  AvartaAvarta  Danh sách bạnDanh sách bạn Góp ýGóp ý  Chơi game flashChơi game flash My loveMy love Truyện cườiTruyện cười Kết bạnKết bạn
۩۞۩๑[♥๑۩۞۩๑ (¯`•♥♥•´¯) ๑۩۞۩๑[♥๑۩۞۩๑


RE:Những bài văn mẫu lớp 10




                         

Ðang Ký   
 



Trang 1 trong tổng số 1 trang

TOPIC


Nếu chưa là thành viên của forum - hãy đăng ký ngay
Chào mừng bạn ghé thăm diễn đàn »[X]«
»»--thanhcong.forumvi.com--««


:::»+ Mời bạn đăng nhập tại đây+«:::

»++Chưa có tài khoản? Bấm Vào Để Đăng Ký +«
//
Share | 
 

 RE:Những bài văn mẫu lớp 10

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 

Admin

AVATAR~

         

Xem Thông Tin MEMBER
»»Admin
         
» Tổng số bài gửi : 309
» Join date : 03/04/2011


Cấp bậc thành viên
Chức hiệu:
------------------------
Admin

Danh vọng:
%/2000%

Tài năng:%/100%

Liên lạc
Xem lý lịch thành viên
Shop 1 Shop 2
   RE:Những bài văn mẫu lớp 10    Fri Aug 26, 2011 6:02 pmBài gửi

Bài Viết VI PHẠM

đây là bài viết số 4:
đề 1: Tính từ năm 1990 đến nay, thế giới đã mất đi 3% diện tích rừng nghĩa là mỗi năm mất 13 triệu ha rừng do chặt phá tràn lan. Nhưng mối năm, có đến 6 triệu ha rừng có nguy co bị phá huỷ. Hiện tại, có 76 nước trên thế giới không còn rừng nguyên sinh. Các bạn của tôi ơi! Liệu những con số này có đáng làm các bạn ngạc nhiên?
Ai chả biết rừng là ngôi nhà tự nhiên của các loài chim muông. Thiếu đi rừng, muông thú sẽ lang thang để rồi rơi vào tay những người thợ săn. Theo báo cáo mới nhất của UICN, có 16,306 loài bị đe dọa biến khỏi bề mặt trái đất, nhiều hơn con số 16,118 loài công bố năm ngoái. Loài khỉ orang-outan đảo Sumatra, Indonesia, hiện chỉ còn 7.300 con. Trong vòng 75 năm qua, số lượng orang-outan ở đây đã giảm đi hơn 80%. Giống chim vẹt đảo Maurice chỉ có thể tìm thấy duy nhất ở vùng Đông-Nam đảo Maurice, trong khu vườn quốc gia PNBRG. Tại đây, một chương trình bảo tồn giống vẹt quý này đã được tiến hành ráo riết. Nạn tàn phá rừng là nguyên chính gây nên sự hiếm hoi của loài chim này. Hay ngay như trong đất nước ta, bạn có thể dễ dàng nhìn thấy những chú voi trên tivi, sách báo hay trong các vườn thú, vườn quốc gia. Nhưng bạn có biết, Việt Nam hiện nay chỉ còn khoảng 100-110 con?... Tất nhiên, có những con số ở đây bạn thấy còn nó rất lớn. Nhưng hãy thử nghĩ lại một chút. Đó là con số của cả một quốc gia, thậm chí của cả một thế giới thì có còn lớn nữa không? Đây là những con số thật sự đáng tiếc!
Mà không chỉ với các loài động thực vật, nếu mất đi rừng, sẽ xảy ra hiện tượng lũ lụt, xói mòn, xói lở đất. Các bạn ơi, các bạn hãy thử nghĩ mà xem. Người nông dân vất vả cả năm trời được có 2 vụ lúa. Vậy mà chỉ một lần lũ về là cuốn sạch mất một vụ rồi. Thử hỏi nỗi khổ tâm ấy ai thấu? Hay dải đất miền Trung thân thương của Tổ quốc năm nào cũng phải chịu khổ vì nước lũ, các hộ dân khó mà tạo được cuộc sống ổn định. Như thế có thiệt thòi hay không? Vâng, xin nói lại rằng tôi và rất nhiều người ở đây chưa từng tham gia chặt phá rừng. Nhưng chúng ta có dám chắc rằng chúng ta chưa từng dung những sản phẩm của rừng xanh? Có những nhu cầu cơ bản quan trọng, nhưng lại có những nhu cầu chỉ để thoả mãn mục đích cá nhân. Hầu hết mọi người đều ưa dung đồ gỗ hơn, nhất là những loại gỗ quý. Vậy thì tại sao không từ bỏ một chút lợi ích cá nhân mà cứu lấy môi trường này- ngôi nhà chung của tất cả chúng ta?
Rừng là lá phổi xanh của thế giới. Trong mỗi chúng ta, có ai có thể sống thiếu phổi? Cũng như vậy, chúng ta không thể sống thiếu rừng, thiếu cay xanh.

đề 2:
Tệ nạn ma túy đã và đang là một hiểm họa của nhiều nước trên thế giới , bởi vậy Liên Hiệp Quốc đã lấy ngày 26-6 hàng năm là ngày toàn thế giới phòng chống ma túy.
Ở nước ta, trong những năm gần đây tình trạng nghiện hút, tiêm chích và buôn bán, tổ chức sử dụng trái phép các chất ma túy diẫn ra rất phức tạp với nhiều thủ đoạn xảo quyết. Vụ buôn bán ma túy xuyên quốc gia Vũ Xuân Trường là một ví dụ điển hình.
Nạn sử dụng ma túy để rồi nhanh chóng bị nghiện đã lây lan trong thanh thiếu niên , đặc biệt nghiêm trọng là đã và đang xâm nhập vào một bộ phận học sinh, sinh viên.
Ma túy gây nhiều tác hại cho bản thân, gia đình, xã hội, nòi giống , dân tộc, ảnh hưởng xấu đến việc học tập, đạo đức, sức khỏe của thanh thiếu niên nói chung, học sinh, sinh viên nói riêng, làm khánh kiệt kinh tế của gia đình. Nhiều người đã sử dụng một lần đến quen, rồi nghiện, phải bỏ học và đã nhanh chóng trở thành tội phạm.
Ngày 29-1-1993, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 06/CP về tăng cường chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy. Nội dung cơ bản của Nghị quyết này là :
- Tuyên truyền và giáo dục rộng rãi trong nhân dân để mọi người thấy được hậu quả tác hại của tệ nạn ma túy.
- Vận động đồng bào các dân tộc miền núi phá bỏ trồng cây thuốc phiện, chuyển đổi cơ cấu cây trồng có sự hỗ trợ của Nhà nước.
- Tăng cường kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển, lưu thông các chất ma túy trong phạm vi cả nước, tăng cường hợp tác quốc tế trong việc kiểm soát ma túy.
- Đẩy mạnh công tác kiểm tra, phát hiện và triệt phá các ổ tiêm chích, hút hít, uống các chất ma túy và tổ chức cai nghiện ma túy cho người nghiện.
đề 3 :
Trước hết phải khẳng định là tớ không giỏi Văn tẹo nào cả và thậm chí tớ không yêu môn Văn tẹo nào luôn. Giờ Văn toàn nằm ngủ hoặc thả hồn theo mây.

Chỉ đơn giản là tớ thích đọc sách và thích viết. Cho nên tớ cũng không dám "múa rìu qua mắt thợ" với những ai học chuyên Văn, nhà văn, Olympic Văn, học sinh giởi Văn. Đơn thuần, tớ chia sẻ những gì tớ suy nghĩ, tớ thấy, tớ từng áp dụng trong việc: "Làm sao để có thể viết văn dễ dàng và có cảm xúc?" hay ít nhất bạn cũng thắc mắc tại sao tớ có thể viết một ngày liền tù tì ba entry dài.

Quan trọng nhất đối với tớ là phải suy nghĩ. Hãy tập suy nghĩ và tưởng tượng. Bạn có thể suy nghĩ bất cứ lúc nào mà. Chẳng hạn nhé, nhìn một chiếc lá bạn nghĩ tới gì? Lá cây, ừm đúng rồi đơn giản. Rồi bạn nghĩ xa hơn một tí, khi chiếc lá phải xa cành thì sao. Xa và cao hơn tí nữa, tớ sẽ nghĩ chiếc lá ấy giống như tớ, lớn lên và phải xa rời vòng tay cha mẹ. Suy nghĩ, hãy tập suy nghĩ về một vấn đề nào đó bằng tất cả cảm xúc, kỉ niệm. Tớ trung thành với một ý nghĩ: chẳng có sự vật hiện tượng nào vô nghĩa và tầm thường chỉ quan trọng là mình biết nghĩ hay không. Bạn cũng hãy thử suy nghĩ thử xem. Khi rảnh rỗi, nhìn những vật thật bình thường quanh bạn.

Tớ suy nghĩ như này, có hai dạng người, một dễ dàng nói ra cảm xúc tình cảm, hai che giấu bên trong. Những người giấu kĩ cảm xúc vào trong hãy thử đọc những dòng viết ngắn gọn, súc tích nhưng tràn đầy tình cảm xem. Dạng còn lại, có vẻ những gì họ viết ra nhẹ nhàng, bình thường hơn, giống như khi họ nói. Với những người giấu kĩ cảm xúc, viết ra có nghĩa là trút bỏ được những suy nghĩ còn ấp ủ và như thế lòng nhẹ nhàng hơn. Vậy, điều thứ hai tớ muốn nói ở đây để viết hay là cảm xúc. Tại sao tớ không đặt cảm xúc lên hàng đầu? Bởi một khi bạn suy nghĩ việc gì, vật gì, tự nhiên cảm xúc sẽ tự tìm đến bạn. Nếu bạn quá gắng gồng cảm xúc, điều đó trở nên vô nghĩa.

Điều thứ ba với tớ là đọc. Tớ đọc hàng ngày, đọc sách, đọc trên mạng, đọc và cả ngẫm nghĩ. Có đôi khi tớ quá thích cuốn sách nào đó, tớ đọc nhiều đến nỗi bị ảnh hưởng cách hành văn, rồi tớ làm cho cách đó riêng biệt là của tớ. Việc đọc là việc lí thú nhất trên đời. Bạn đọc báo hàng ngày để ghi nhận những sự kiện đang xảy ra, điều đó có ích vô cùng. Một bài văn, một blog, một bài cảm nhận sống động hơn nếu nó thực tế và làm cho người ta cảm nhận nó không cũ, nó sống cùng thời đại. Bạn đọc sách truyện, văn học để dấy lên những cảm xúc, những yêu thương trong bạn, và có những đồng cảm sẽ khiến bạn thốt lên bằng lời.

Điều cuối cùng là tớ không bao giờ để người đọc áp đặt lên tớ. Không quan trọng người đọc là ai, thoải mái mà viết. Phải viết nhiều, có thế mới có thể quen và nảy sinh cảm xúc từ từ. Bất kì cầu thủ nào cũng phải chơi nhiều để quen sân quen bóng, quen giày. Viết văn cũng thế thôi. Và đừng bao giờ suy nghĩ tôi đang phải viết cho dạng người nào đọc, bạn phải phục vụ cho cảm xúc của chính bạn trước tiên. Viết cho người ta đọc dễ làm mòn những cảm xúc trong bạn. Hãy nghĩ và viết cho cảm xúc của chính bạn trước tiên rồi từ từ hòa hợp với việc "viết trình diễn".

Vâng, tớ không giỏi Văn tẹo nào, không thích học Văn tí nào, nhưng tớ yêu mỗi ngày được viết, được thoải thích viết lên những cảm xúc. Từ việc thích đọc báo, rồi tớ thích đọc sách, rồi thích viết, rồi thích ngẫm nghĩ để viết. Nhờ viết ít ra cuộc sống của tớ đã ý nghĩa hơn rất nhiều. đây là bài viết số 5:
đề 1:
Văn Miếu – Quốc Tử Giám là quần thể di tích đa dạng và phong phú hàng đầu của thành phố Hà Nội, nằm ở phía nam kinh thành Thăng Long thời nhà Lý. Là tổ hợp gồm hai di tích chính: Văn Miếu thờ Khổng Tử, các bậc hiền triết của Nho giáo và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An, người thầy tiêu biểu đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam; và Quốc Tử Giám trường Quốc học cao cấp đầu tiên của Việt Nam, với hơn 700 năm hoạt động đã đào tạo hàng nghìn nhân tài cho đất nước. Ngày nay, Văn Miếu-Quốc Tử Giám là nơi tham quan của du khách trong và ngoài nước đồng thời cũng nơi khen tặng cho học sinh xuất sắc và nơi tổ chức hội thơ hàng năm vào ngày rằm tháng giêng. Đặc biệt, đây còn là nơi các sĩ tử ngày nay đến "cầu may" trước mỗi kỳ thi.

Nói về Lịch sử nha:

Văn Miếu được xây dựng từ "tháng 8 năm Canh Tuất (1070) tức năm Thần Vũ thứ hai đời Lý Thánh Tông, đắp tượng Chu Công, Khổng Tử và Tứ phối vẽ tranh tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử đến đấy học.".


Bia tiến sĩ khoa thi nho học năm Nhâm Tuất (1442)Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử giám, có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam. Ban đầu, trường chỉ dành riêng cho con vua và con các bậc đại quyền quý (nên gọi tên là Quốc Tử). Năm 1156, Lý Anh Tông cho sửa lại Văn Miếu và chỉ thờ Khổng Tử.

Từ năm 1253, vua Trần Thái Tông cho mở rộng Quốc Tử giám và thu nhận cả con cái các nhà thường dân có sức học xuất sắc.

Đời Trần Minh Tông, Chu Văn An được cử làm quan Quốc Tử giám Tư nghiệp (hiệu trưởng) và thầy dạy trực tiếp của các hoàng tử. Năm 1370 ông mất, được vua Trần Nghệ Tông cho thờ ở Văn Miếu bên cạnh Khổng Tử.

Sang thời Hậu Lê, Nho giáo rất thịnh hành. Vào năm 1484, Lê Thánh Tông cho dựng bia tiến sĩ của những người thi đỗ tiến sĩ từ khóa thi 1442 trở đi.

Năm 1762, Lê Hiển Tông cho sửa lại là Quốc Tử Giám - cơ sở đào tạo và giáo dục cao cấp của triều đình. Năm 1785 đổi thành nhà Thái học.

Đời nhà Nguyễn, Quốc Tử giám lập tại Huế. Năm 1802, vua Gia Long ấn định đây là Văn Miếu - Hà Nội và cho xây thêm Khuê Văn Các. Trường Giám cũ ở phía sau Văn Miếu lấy làm nhà Khải thánh để thờ cha mẹ Khổng Tử. Đầu năm 1947, giặc Pháp nã đạn đại bác làm đổ sập căn nhà, chỉ còn cái nền với hai cột đá và 4 nghiên đá. Ngày nay, ngôi nhà này đã được phục dựng theo kiến trúc cùng thời với quần thể các công trình còn lại.

Năm 1762, Lê Hiển Tông cho sửa lại là Quốc Tử Giám - cơ sở đào tạo và giáo dục cao cấp của triều đình. Năm 1785 đổi thành nhà Thái học.

Đời nhà Nguyễn, Quốc Tử giám lập tại Huế. Năm 1802, vua Gia Long ấn định đây là Văn Miếu - Hà Nội và cho xây thêm Khuê Văn Các. Trường Giám cũ ở phía sau Văn Miếu lấy làm nhà Khải thánh để thờ cha mẹ Khổng Tử. Đầu năm 1947, giặc Pháp nã đạn đại bác làm đổ sập căn nhà, chỉ còn cái nền với hai cột đá và 4 nghiên đá. Ngày nay, ngôi nhà này đã được phục dựng theo kiến trúc cùng thời với quần thể các công trình còn lại

Kiến trúc:

Quần thể kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám được bố cục đăng đối từng khu, từng lớp theo trục Bắc Nam, mô phỏng tổng thể quy hoạch khu Văn Miếu thờ Khổng Tử ở quê hương ông tại Khúc Phụ, Sơn Đông, Trung Quốc. Tuy nhiên, quy mô ở đây đơn giản hơn, kiến trúc đơn giản hơn và theo phương thức truyền thống nghệ thuật dân tộc.

Phía trước Văn Miếu có một hồ lớn gọi là hồ Văn Chương, tên cũ xưa gọi là Thái Hồ. Giữa hồ có gò Kim Châu, trước đây có lầu để ngắm cảnh.

Ngoài cổng chính có tứ trụ, hai bên tả hữu có bia "Hạ Mã", xung quanh khu vực xây tường cao bao quanh. Cổng Văn Miếu xây kiểu Tam quan, trên có 3 chữ "Văn Miếu Môn" kiểu chữ Hán cổ xưa.

Trong Văn miếu chia làm 5 khu vực rõ rệt, mỗi khu vực đều có tường ngăn cách và cổng đi lại liên hệ với nhau :

Khu thứ nhất: bắt đầu với cổng chính Văn Miếu Môn đi đến cổng Đại Trung Môn, hai bên có cửa nhỏ là Thành Đức Môn và Đạt Tài Môn.
Khu thứ hai: từ Đại Trung Môn vào đến khuê Văn Các (do Đức Tiền Quân Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành cho xây năm 1805). Khuê Văn Các là công trình kiến trúc tuy không đồ sộ song tỷ lệ hài hòa và đẹp mắt. Kiến trúc gồm 4 trụ gạch vuông (85 cm x 85 cm) bên dưới đỡ tầng gác phía trên, có những kết cấu gỗ rất đẹp. Tầng trên có 4 cửa hình tròn, hàng lan can con tiện và con sơn đỡ mái bằng gỗ đơn giản, mộc mạc. Mái ngói chồng hai lớp tạo thành công trình 8 mái, gờ mái và mặt mái phẳng. Gác là một lầu vuông tám mái, bốn bên tường gác là cửa sổ tròn hình mặt trời toả tia sáng. Hình tượng Khuê Văn Các mang tất cả những tinh tú cua bầu trời toả xuống trái đất và trái đất nơi đây được tượng trưng hình vuông của giếng Thiên Quang. Công trình mang vẻ đẹp sao Khuê, ngôi sao sáng tượng trưng cho văn học. Đây là nơi thường được dùng làm nơi thưởng thức các sáng tác văn thơ từ cổ xưa tới nay. Hai bên phải trái Khuê Văn Các là Bi Văn Môn và Súc Văn Môn dẫn vào hai khu nhà bia Tiến sỹ.
Khu thứ ba: gồm hồ nước Thiên Quang Tỉnh (nghĩa là giếng soi ánh mặt trời), có hình vuông. Hai bên hồ là 2 khu nhà bia tiến sĩ. Mỗi tấm bia được làm bằng đá, khắc tên các vị thi đỗ Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Hoàng giáp, Tiến sĩ. Bia đặt trên lưng một con rùa. Hiện còn 82 tấm bia tiến sĩ về các khoa thi từ năm 1442 đến năm 1779, chia đều cho hai khu tả và hữu. Trong đó, 12 bia đầu tiên (cho các khoa thi những năm 1442-1514) được dựng vào thời Lê sơ, 2 bia (cho các khoa 1518, 1529) được dựng vào triều nhà Mạc, còn 68 bia cuối cùng (các khoa thi những năm 1554-1779) được dựng vào thời Lê trung hưng. Mỗi khu nhà bia gồm có 1 Bi đình nằm ở chính giữa và 4 nhà bia (mỗi nhà 10 bia) xếp thành hai hàng, nằm hai bên Bi đình. Bi đình khu bên trái Thiên Quang Tỉnh chứa bia tiến sĩ năm 1442, còn Bi đình khu bên phải chứa bia tiến sĩ năm 1448.
Khu thứ tư: là khu trung tâm và là kiến trúc chủ yếu của Văn Miếu, gồm hai công trình lớn bố cục song song và nối tiếp nhau. Toà ngoài nhà là Bái đường, toà trong là Thượng cung.
Khu thứ năm: là khu Thái Học, trước kia đã có một thời kỳ đây là khu đền Khải thánh, thờ bố mẹ Khổng Tử, nhưng đã bị phá hủy. Khu nhà Thái Học mới được xây dựng lại năm 2000.
Trong Văn Miếu có tượng Khổng Tử và Tứ phối (Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử). Ở điện thờ Khổng Tử có hai cặp hạc cưỡi trên lưng rùa. Đây là hình tượng rất đặc trưng tại các đền, chùa, lăng tẩm, miếu mạo ở Việt nam. Hình ảnh hạc chầu trên lưng rùa trong nhiều ngôi chùa, miếu..., hạc đứng trên lưng rùa biểu hiện của sự hài hòa giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm - dương. Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh tuý và thanh cao. Theo truyền thuyết rùa và hạc là đôi bạn rất thân nhau. Rùa tượng trưng cho con vật sống dưới nước, biết bò, hạc tượng trưng cho con vật sống trên cạn, biết bay. Khi trời làm mưa lũ, ngập úng cả một vùng rộng lớn, hạc không thể sống dưới nước nên rùa đã giúp hạc vượt vùng nước ngập úng đến nơi khô ráo. Ngược lại, khi trời hạn hán, rùa đã được hạc giúp đưa đến vùng có nước. Điều này nói lên lòng chung thuỷ và sự tương trợ giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn giữa những người bạn tốt.

Ngày nay, Khuê Văn Các ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám đã được công nhận là biểu tượng của thành phố Hà Nội
đề 2:
( sorry I can't)
đề 3:
Người Chăm có nhiều nghề được lưu truyền gìn giữ qua bao đời nay như: dệt thổ cẩm ở làng Mỹ Nghiệp, Chung Mỹ, gốm ở Bàu Trúc, tranh thêu, tranh ghép gỗ, sản phẩm từ mây tre....
Làng gốm Bàu Trúc

Nằm cách thị xã Phan Rang - Tháp Chàm (tỉnh Ninh Thuận) khoảng 10km về hướng Nam. Theo truyền thuyết của cư dân địa phương, nghề làm gốm do vợ chồng ông tổ Pôklông Chanh dạy cho phụ nữ trong làng từ ngàn xưa được nhân dân duy trì cho đến ngày nay. Để tưởng nhớ công ơn tổ nghề, bà con lập đền thờ Pôklông Chanh ngay trong làng và tế lễ vào dịp lễ hội Katê hàng năm. Bàu Trúc là làng gốm duy nhất ở Việt Nam mà người thợ chỉ dùng bàn tay tài hoa của mình để cho ra đời những sản phẩm đất nung.

Vật liệu đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra một sản phẩm gốm thật sự ở Bàu Trúc là một loại đất sét đặc biệt. Loại đất sét này được lấy từ bờ sông Quao, khi nung rất dẻo và bền. Kỹ năng trộn cát với đất sét cũng rất khác biệt. Lượng cát được trộn vào vật liệu còn phụ thuộc vào công dụng và kích thước của từng loại gốm. Vì thế nên gốm Bầu Trúc hoàn toàn khác so với gốm những nơi khác.


Sản xuất gốm ở Ninh Thuận.

Dưới bóng mát những mái hiên nhà, dưới những tán cây cổ thụ thấp thoáng bóng dáng những người phụ nữ Chăm đang cần mẫn tạo hình cho sản phẩm gốm truyền thống. Hàng ngàn con người gắn bó máu thịt với nghề làm gốm đã tạo nên một diện mạo văn hoá độc đáo của cộng đồng dân tộc Chăm Việt Nam.

Toàn làng có 440 hộ với 2887 nhân khẩu dân tộc Chăm. Do sự phân công lại lao động trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đã có 20% chuyển sang làm dịch vụ thương mại, chăn nuôi gia súc theo mô hình trang trại. 80% số hộ còn lại vẫn gắn bó với nghề gốm truyền thống mẹ truyền con nối.

Ông Đàng Phán, 54 tuổi, trưởng Khu phố 7 thuộc thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước (tỉnh Ninh Thuận) phấn khởi nói bà con làng gốm ăn nên làm ra trong cơ chế kinh tế thị trường là do biết giữ chữ tín sản phẩm làng nghề. Chất lượng hàng tốt, giá rẻ cạnh tranh được với sản phẩm nhôm nhựa công nghiệp cùng loại là điều kiện quyết định cho sự sống còn của làng gốm hiện nay. Một bộ phận nghệ nhân cũng đã chuyển sang làm sản phẩm gốm mỹ thuật có thu nhập khá ổn định. Ngoài nghề làm ruộng lúa và chăn nuôi gia súc thì nghề làm gốm được xem là ngành sản xuất chính ở địa phương. Tuy chưa thể giàu lên từ sản phẩm hàng hoá của nghề gốm nhưng nhiều gia đình đã làm nhà, nuôi cao cái tốt nghiệp đại học, có cuộc sống ổn định đều nhờ vào bàn tay tài hoa của những người phụ nữ Chăm làm gốm thủ công.

Ông Đàng Phán đưa chúng tôi đi thăm thú hỏi chuyện làm ăn của bà Phú Thị Ngủi - một nghệ nhân gốm có “thâm niên” tuổi đời và tuổi nghề. Bà Ngủi 60 tuổi đời đã có 48 năm làm nghề gốm. Từ bàn tay chế tác gốm, bà là trụ cột kinh tế gia đình nuôi mười miệng ăn. Hàng tháng, ngoài việc lo ăn lo mặc cho gia đình ở quê, bà còn dành dụm 500-700 ngàn đồng nuôi cô con gái đang là sinh viên năm thứ 4 Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh. Bà Ngủi có thể làm tất cả sản phẩm gốm theo nhu cầu thị trường và theo “đơn đặt hàng” của khách. Từ tượng nữ thần Apsara biểu tượng cho vẻ đẹp thiếu nữ Chăm để phục vụ khách du lịch làm quà lưu niệm đến các vật dụng gốm cần thiết cho đời sống thường ngày của cư dân phương nam như ấm đất, khuôn đổ bánh căn, bánh xèo, lu đựng nước, nồi đất, lò đun than củi…

Già làng Đàng Huỳnh 70 tuổi, giáo viên nghỉ hưu, chi hội trưởng Chi hội Người Cao tuổi Bàu Trúc tâm sự:” Tất cả phụ nữ Chăm trong làng đều biết làm gốm. Các cháu gái 12-14 tuổi bắt đầu học làm gốm. Đến khi có chồng, phải biết làm đủ các sản phẩm gốm từ ấm đất đến lu đựng nước. Khi nền công nghiệp nhôm nhựa Việt Nam chưa phát triển thì nghề làm gốm của người Chăm ở Ninh Thuận rất phồn thịnh. Gốm Chăm theo đường sắt, đường bộ xuôi vào miền Tây Nam bộ rồi ngược lên Tây Nguyên, cung cấp vật dụng đất nung cho cư dân khắp các địa phương. Kể từ những năm đầu thập niên 1970 của thế kỷ trước, lúc công nghiệp nhôm nhựa phát triển thì nghề gốm rơi vào cảnh lao đao...".

Vậy nhưng sắc đỏ gốm nung đã ngấm vào máu thịt của cư dân làng gốm. Có những lúc không tiêu thụ được sản phẩm, bà con vượt lên khó khăn để giữ lấy nghề truyền thống của ông bà. Toàn tỉnh Ninh Thuận có hàng chục làng Chăm nhưng chỉ có phụ nữ và đất sét làng Bàu Trúc mới làm được đồ gốm. Người làm gốm gởi tình cảm, tâm linh của mình vào trong từng thớ đất, từng đường nét hoa văn. Vì vậy, sản phẩm của mỗi người thợ gốm Chăm có tiếng nói riêng không hề trộn lẫn vào nhau. Một sản phẩm gốm đã bán đi năm - mười năm nhưng khi gặp lại, họ vẫn nhận được mặt hàng do tay mình làm ra.

Nghề làm gốm rất công phu. Đất sét được lấy từ đồng Bàu Trúc về đập nhỏ. Trước khi nặn gốm, người thợ phải đào hố ủ đất qua một đêm với lượng nước vừa phải. Sáng hôm sau, đem đất đã ủ trộn với cát mịn nhào nhuyễn. Phụ nữ Chăm nặn gốm hoàn toàn bằng tay, không dùng bàn xoay như những nơi khác. Họ đi vòng quanh bệ gốm để chế tác sản phẩm. Có lẽ Bàu Trúc là làng gốm duy nhất ở Việt Nam mà người th

Bài Viết Số 6 :
Thuyết minh về 1 tác phẩm văn học
bài làm :
Trong dòng văn học ca ngợi truyền thống yêu nước xuyên suốt lịch sử văn học Việt Nam, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi được đánh giá là ánh “thiên cổ hùng văn”, là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc, được các thế hệ người Việt luôn yêu thích, tự hào.

"Bình Ngô đại cáo" được Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết vào khoảng đầu năm 1428, khi cuộc kháng chiến chống Minh xâm lược của nghĩa quân Lam Sơn đã thắng lợi, quân Minh buộc phải kí hòa ước, rút quân về nước, nước ta bảo toàn được nền độc lập tự chủ, hòa bình. Nguyễn Trãi (1380-1442) là một anh hùng dân tộc, là người toàn tài hiếm có trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam. Ông có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh đồng thời cũng là nhà thơ trữ tình sâu sắc, nhà văn chính luận kiệt xuất, là cây đại thụ đầu tiên của văn học trung đại Việt Nam.

Tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” được Nguyễn Trãi viết theo thể cáo, một thể văn có nguồn gốc từ Trung Hoa, viết bằng chữ Hán, thuộc thể văn hùng biện chính luận, có nội dung thông báo một chính sách, một sự kiện trọng đại liên quan đến quốc gia dân tộc, công báo trước toàn dân. Nhan đề tác phẩm có ‎ Ý nghĩa là bài cáo trọng đại tuyên bố về việc dẹp yên giặc Ngô-một tên gọi hàm ý khinh bỉ căm thù giặc Minh xâm lược. Bài cáo có bố cục chặt chẽ mạch lạc, viết theo lối biền ngẫu, vận dụng thể tứ lục, sử dụng hệ thống hình tượng sinh động, gợi cảm.

Bài cáo gồm bốn đoạn. Đoạn đầu nêu cao luận đề chính nghĩa của cuộc kháng chiến, đó là tư tưởng nhân nghĩa kết hợp với độc lập dân tộc: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân-Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” và “Như nước Đại Việt ta từ trước-Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”. Đoạn thứ hai của bài cáo đã vạch trần, tố cáo tội ác dã man của giặc Minh xâm lược. Đoạn văn là bản cáo trạng đanh thép, tố cáo giặc Minh ở các điểm: âm mưu cướp nước, chủ trương cai trị phản nhân đạo, hành động tàn sát tàn bạo. Đồng thời, đoạn văn cũng nêu bật nỗi thống khổ, khốn cùng của nhân dân, dân tộc ta dưới ách thống trị của kẻ thù: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn-Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”; “Dối trời, lừa dân, đủ muôn nghìn kế-Gây binh kết oán, trải hai mươi năm”. Đoạn văn ngùn ngụt Ý chí căm thù giặc và thống thiết nỗi thương dân lầm than. Đoạn văn thứ ba là đoạn dài nhất của bài cáo, có Ý nghĩa như bản anh hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Đoạn văn đã tổng kết lại quá trình khởi nghĩa. Ban đầu cuộc khởi nghĩa gặp nhiều khó khăn, lương thảo, quân sĩ, người tài đều thiếu, nghĩa quân ở vào thế yếu “Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần-Khi Khôi Huyện quân không một đội”, “Tuấn kiệt như sao buổi sớm-Nhân tài như lá mùa thu”, “lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều”…Nhưng nghĩa quân có người lãnh tụ Lê Lợi sáng suốt, bền chí, yêu nước “Ngẫm thù lớn há đội trời chung-Căm giặc nước thề không cùng sống”, biết đoàn kết lòng dân “Sĩ tốt một lòng phụ tử-Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”, dùng chiến thuật phù hợp nên nghĩa quân Lam Sơn ngày một trưởng thành “Sĩ khí đã hăng, quân thanh càng mạnh”và ngày càng chiến thắng giòn giã, vang dội “Đánh một trận sạch không kình ngạc-Đánh hai trận tan tác chim muông”, giặc Minh thì liên tiếp thất bại, thất bại sau lại càng thảm hại hơn thất bại trước, mỗi tên tướng giặc bại trận lại có vết nhục nhã riêng: kẻ treo cổ tự vẫn, kẻ quỳ gối dâng tờ tạ tội, kẻ bị bêu đầu…Đoạn văn thứ ba của bài cáo cũng ca ngợi lòng nhân đạo, chuộng hòa bình của nhân dân, dân tộc ta, tha sống cho quân giặc đã đầu hàng, lại cấp cho chúng phương tiện, lương thảo về nước. Đoạn cuối của bài cáo đã tuyên bố trịnh trọng về việc kết thúc chiến tranh, khẳng định nền độc lập, hòa bình vững bền của đất nước, thể hiện niềm tin vào tương lai tươi sáng của dân tộc.

Bài cáo có sự kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa yếu tố chính luận sắc bén với yếu tố văn chương truyền cảm, kết hợp giữa lí luận chặt chẽ và hình tượng nghệ thuật sinh động. Cảm hứng nổi bật xuyên suốt tác phẩm là cảm hứng anh hùng ca hào hùng sôi nổi, mãnh liệt. Giọng điệu của bài cáo rất đa dạng, khi tự hào về truyền thống văn hóa, anh hùng lâu đời của dân tộc, khi thì căm phẫn sục sôi trước tội ác của kẻ thù, khi thống thiết xót thương trước nỗi đau lầm than của nhân dân, khi lo lắng trước những khó khăn của cuộc kháng chiến, khi hào hùng ngợi ca chiến thắng, khi trịnh trọng tuyên bố độc lập của dân tộc, đất nước.

“Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi là bản anh hùng ca ca ngợi chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta thế kỉ XV. Tác phẩm vừa có giá trị lịch sử, vừa có giá trị văn học, không chỉ lưu giữ những sự kiện lịch sử mà còn lưu truyền lòng yêu nước tự hào dân tộc đến các thế hệ người Việt Nam. Mỗi người dân Việt Nam ngày nay đều hào sảng trước những câu văn hùng hồn:

“Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương.
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,
Song hào kiệt đời nào cũng có…”


Shop 2 Của Admin

Chữ ký của : Admin

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://www.giaitrigame24h.tk
 

RE:Những bài văn mẫu lớp 10

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
۩۞۩๑[♥๑۩۞۩๑ (¯`•♥Thiếu_gia_9x♥•´¯) ๑۩۞۩๑[♥๑۩۞۩๑ vspace=1 /> » NHUNG BAI VAN HAY LOP 10-
Chuyển đến 



Free forum | © PunBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Create a free blog